• Tăng cỡ chữ
  • Cỡ chữ mặc định
  • Giảm cỡ chữ
Văn hoá, Văn nghệ, Thể thao

Vài điều chia sẻ với sinh viên về thực tập sư phạm

Thư điện tử In PDF

Vậy là một học kỳ nữa trôi qua, học kỳ thứ 7 trên con đường học tập, rèn luyện của một sinh viên CĐSP để trở thành người giáo viên. Trước khi lên đường tham gia thực tập sư phạm, tôi chắc hẳn các bạn cũng chuẩn bị cho mình rất nhiều điều và chắc hẳn các bạn cũng nghe được nhiều câu chuyện bi có, hài có, cả những giai thoại cười ra nước mắt từ các anh chị lớp trước; những giai thoại như đùa, như thật  ấy chắc hẳn làm cho các bạn hồi hộp, lo lắng hơn nhiều khi lần đầu đứng trên bục giảng!

Ðọc thêm...
 

Văn hóa chất lượng trong nhà trường

Thư điện tử In PDF

Ai cũng biết, nói đến giáo dục là phải nói đến chất lượng. Vấn đề đảm bảo chất lượng giáo dục hiện nay được Bộ GD - ĐT cũng như các trường ĐH, CĐ rất quan tâm.Tuy nhiên chất lượng được thể hiện qua sản phẩm và các điều kiện tạo ra sản phẩm, trong đó môi trường là yếu tố quan trọng để tạo nên chất lượng. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh và phát triển văn hóa chất lượng trong nhà trường như là hoạt động của kiểm định chất lượng tạo nền tảng tư tưởng cho việc kiểm định chất lượng một cách bền vững. Ở một số trường ĐH tiêu biểu đã xây dựng bộ tiêu chí văn hóa chất lượng nhằm hướng đến công tác đảm bảo chất lượng của đơn vị mình.

Vậy văn hóa chất lượng là gì?

Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm “chất lượng”.

Chất lượng là khái niệm “đa chiều” và bao hàm nhiều yếu tố. Nó được định nghĩa không những là sự phù hợp với mục tiêu mà còn chứa đựng trong đó tính có thể tin cậy được, tính bền vững, tính thẩm mỹ … Tại Hội thảo Giáo dục Thế giới chào Thế kỉ XXI được tổ chức tại Paris năm 1999, chất lượng GDĐH được hiểu là “khái niệm đa chiều, bao gồm tất cả các chức năng và hoạt động (của trường đại học): giảng dạy và các chương trình đào tạo, nghiên cứu và sự uyên bác, cán bộ, sinh viên, cơ sở hạ tầng và môi trường chuyên môn”. Đánh giá chất lượng của một chương trình đào tạo hay một khoá học là làm việc với những tiêu chí và những mong đợi khác nhau.

Chất lượng còn được định nghĩa khác nhau từ những góc nhìn khác nhau (Reynolds, 1990). Nói cách khác, chất lượng có thể được áp dụng ở nhiều cấp độ : cấp độ quốc gia, trường, khoa và bộ môn. Cách hiểu về khái niệm ở các cấp độ đó cũng thường không giống nhau. Trong giáo dục, các yêu cầu đối với sinh viên cũng được định nghĩa trong các mối quan hệ đa chiều. Chất lượng được nhìn từ quan điểm của những người hưởng lợi (chính phủ, phụ huynh, sinh viên, nhà tuyển dụng, các cơ sở truyền thông đại chúng, cộng đồng và các dân tộc) có những đặc điểm không tương đồng.

Chất lượng được xem là một đích tới luôn thay đổi, phụ thuộc vào các mục tiêu của một hệ thống giáo dục cụ thể nào đó. Các định nghĩa chất lượng có vẻ như luôn được chuyển đổi cùng với sự chuyển đổi các giá trị của các cộng đồng khác nhau trong một xã hội và niềm tin của những người có ảnh hưởng và nắm quyền lực của một hệ thống. Trong bất cứ trường hợp nào, các quan điểm về chính sách giáo dục và chất lượng giảng dạy đều thay đổi theo thời gian. Từ đó, chất lượng được xác định như “một khái niệm có tính tương đối và có ý nghĩa chỉ đối với những ai đánh giá nó ở thời điểm nào đó và theo chuẩn mực, mục đích nào đó” (Hội đồng GDĐH - Australia, 1992). Nghĩa là chất lượng luôn có tính lịch sử cụ thể.

Chất lượng thường được định nghĩa như sự phù hợp với mục tiêu. Chất lượng có được khi một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng.

Ở Việt Nam, định nghĩa của Harvey và Green đã được các nhà giáo dục chuyển dịch và phổ biến rộng rãi. Các nhà nghiên cứu khác, quan niệm chất lượng là sự đáp ứng các nhu cầu của người học và các nhà tuyển dụng lao động. Theo Nguyễn Đức Chính, chất lượng được xem như việc đáp ứng mục tiêu dựa vào định nghĩa của Hiệp hội Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học. Lâm Quang Thiệp và Vũ Văn Tảo cũng cho rằng chất lượng giáo dục là phù hợp với mục tiêu.

Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam, ‘Chất lượng’ được xem là ‘phù hợp với mục tiêu’ – đáp ứng hoặc xác nhận các tiêu chuẩn đã được công nhận nói chung theo định nghĩa của một cơ quan kiểm định chất lượng hoặc một cơ quan đảm bảo chất lượng. Do đó, chất lượng (giáo dục trường đại học) ở Việt Nam được xem là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.

 Văn hóa chất lượng

 Khái niệm “văn hóa chất lượng” cũng được nhiều nhà giáo dục nhắc đến nhiều từ khi khái niệm chất lượng được đặc biệt quan tâm. Ở nhiều nước, các khái niệm như ‘chất lượng’, ‘đảm bảo chất lượng’ hay ‘kiểm định/kiểm toán chất lượng’ đã trở thành những từ dùng quen thuộc. Có một thực tế là trong khi các các trường/đơn vị giáo dục quan tâm đến chất lượng thì phần lớn giáo viên, sinh viên tỏ ra thờ ơ hoặc không tham gia vào các hoạt động ‘chất lượng’ này. Chính vì lẽ đó, khái niệm ‘văn hóa chất lượng‘ được đề cập nhiều trong thời gian gần đây khi nói về sự tham gia thường xuyên của người dạy, nhân viên và người học trong các hoạt động của đơn vị đào tạo. Tuy nhiên, khi nói đến văn hóa chất lượng, cần đề cập đến khái niệm “văn hóa”.

Ở Việt nam, “văn hóa” được hiểu là: 1) Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; 2) Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần; 3) Tri thức, kiến thức khoa học; 4) Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh (Sống có văn hoá; Ăn nói thiếu văn hoá; và 5) Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau.

Từ văn hóa đến chất lượng

Hiện nay, mối quan tâm về văn hóa như một công cụ nhằm cải tiến chất lượng trong một tổ chức ngày càng lớn và được nghiên cứu rất nhiều ở các nước. ‘Quản lý dựa vào các giá trị’ đang được xem là mô hình hiệu quả giúp các nhà quản lý thay đổi cách thức tổ chức truyền thống bị xem là cứng nhắc chuyển sang mô hình linh hoạt và có tính mềm dẻo hơn nhằm đáp ứng với các thay đổi và nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Ở nhiều nước, sự gắn kết giữa các trường đại học và các cơ sở xã hội ngày càng cao, các mô hình quản lý theo doanh nghiệp ngày càng được nhiều trường áp dụng, trong đó có mô hình quản lý dựa vào giá trị. Các nghiên cứu của Rovik (1996) cũng chỉ ra rằng, có nhiều điểm tương đồng giữa cách quản lý theo truyền thống và hiện đại, trong đó, các yếu tố văn hóa, giá trị, niềm tin của thành viên tổ chức vẫn đóng vai trò quan trọng. Chúng tôi cho rằng, khi xã hội thay đổi, các thay đổi đó luôn tác động đến con người, dù trong môi trường nào, và khi quan điểm, niềm tin, giá trị của thành viên trong tổ chức thay đổi, cách thức điều hành, quản lý sẽ buộc phải thay đổi. The European Universities Association (EUA) cho rằng văn hóa chất lượng được xem xét dựa trên 02 yếu tố khác nhau. Yếu tố thứ nhất của văn hóa chất lượng là một tập hợp các giá trị, các niềm tin, những mong đợi hướng đến chất lượng. Yếu tố thứ hai, yếu tố quản lý/cơ cấu có các quy trình đảm bảo chất lượng và các nỗ lực hợp tác được xác định từ trước (EUA 2006).

Có thể nói rằng việc hiểu và quan niệm về văn hóa chất lượng gắn liền với niềm tin, giá trị và quan điểm nhiều hơn là kiến thức, nghiên cứu thực tiễn hay phân tích các qui trình chất lượng, dù rằng có nhiều mối liên kết giữa các yếu tố này với nhau. Nói cách khác, để hiểu và xây dựng văn hóa chất lượng, cần phải tác động chẳng những đến hiểu biết, qui định/tổ chức và các biện pháp quản lý mà còn đến quan điểm, niềm tin về các giá trị của những người cùng tham gia trong tổ chức. Ngoài ra, văn hóa tổ chức cũng không phải là khái niệm vô hình, nó được hình thành trong khuổn khổ một tổ chức/thể chế và cũng có cơ sở, giới hạn cũng như các mối liên hệ với nhiều yếu tố khác. Ngoài ra, muốn hiểu được khái niệm văn hóa chất lượng cũng cần đặt tổ chức/thể chế/cơ sở đào tạo đó trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định trong quá trình mà văn hóa chất lượng được hình thành và phát triển.

 

 

Đọc thơ NGUYỄN VĂN TRINH

Thư điện tử In PDF

“Mây trắng bên trời” hoài vọng
   
Thơ, ở khía cạnh nào đó, là sự trở về bản ngã hồn nhiên nhất của con người. Trần Mạnh Hảo xác quyết, “thơ chính là tuổi thơ của loài người”. Người làm thơ mang con mắt trần gian thanh lọc những che khuất rối nhiễu, trả lại nguyên khôi điều ước trong veo như trời xanh mây trắng. Đấy là cái nhìn của tôi khi đọc Mây trắng bên trời của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình. Chưa vội bàn câu chữ, chỉ dừng lại ở tình cảm cảm xúc xuyên suốt trong thơ anh không thôi đã thấy lấp lánh một tinh cầu ấm áp, một tươi rói yêu thương và chia sẻ. Đã ngoài cái tuổi tri thiên mệnh, người thơ nuôi dưỡng được trạng thái chồi non lộc biếc đến nhường ấy thật đáng để bầu bạn cùng trang lứa như chúng tôi thán phục.

Tổng quan thì như thế, nhìn sâu hơn lại không hẳn. Thơ anh không thiếu những miên trường thao thức, những băn khoăn day dứt, và tất nhiên, lắm khi ta bắt gặp những chiêm nghiệm đúc ra từ cuộc sống. Dầu vậy, ta vẫn yêu hơn những câu thơ sáng trong lặng lẽ của anh. Đó mới thực sự là những tín hiệu tâm hồn nhấp nhánh nguồn sáng dịu êm đính lên khung trời hoài niệm:

Nhớ mùa xanh lá vẫy môi chào
Ôi hồn nhiên nắng ngọt chiêm bao
  (Hoài niệm)
Hay: 
Em về buốt tím hoa mua
Đường côi mấy nẻo gió lùa hồn anh
                (Em về bên ấy)
 Có thể nói, nội cảm hóa thế giới thực tại làm nên hồn vía và sức sống câu thơ. Gần gủi hơn, làm cho cuộc sống quanh ta thêm phần thi vị bởi trên dòng đời lũ cuốn làm ta tỉnh thức những nhớ quên giữa ngổn ngang sấp ngửa.

 Không gian tự tình trong Mây trắng bên trời mang những ảnh hình thân thương, thân quen, thân thuộc với nghề cầm phấn, với nõn mây thấp thoáng dưới bóng phượng hồng, với cánh bướm bâng khuâng chập chờn vẫy gọi ở một nơi xa nào, với những bông hoa chớm nở vội rã rời trước nắng mưa cuộc đời dội xuống... Tất thảy được người thơ nâng niu, trân trọng trong cảm thức miên man trăn trở thường trực. 

 Lặng lẽ viết, lặng lẽ tự tình với những con chữ tí tách nẩy mầm yêu thương và khát vọng, Nguyễn Văn Trình đến với thơ bằng hiển tâm của người mang sứ mạng chở đạo. Chính thiên chức nhà giáo – thi sĩ đã giúp anh hái được những bông thơ sắc thắm bên trời. Và bạn đọc sẽ thấy nhiều vẻ đẹp khi dạo vườn thơ của anh.

Tác phẩm thơ, tự thân nó làm nên một định nghĩa; mỗi chủ thể sáng tạo, đến lượt mình, cũng có thể được xem như vậy. Người đọc có quyền đòi hỏi người thơ nhiều thứ nhưng không thể không ghi nhận một tấm lòng trải ra trên trang giấy. Đấy là cái định nghĩa lung linh sinh động bằng sự sáng tạo lại vẻ đẹp thế giới của riêng mình. Riêng điều ấy thôi, thơ của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình đủ để gầy dựng một một sẻ chia với người đọc, tôi tin như thế.

                                                                               VÕ VĂN LUYẾN

 

*  Nguyễn Văn Trình: Mây trắng bên trời  (tập thơ), NXB Thuận Hóa, 2011

Cập nhật lần cuối vào 10:50 28.12.2011
 

Giải bóng chuyền HSSV kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam

Thư điện tử In PDF

Thiết thực lập thành tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 và tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời tăng cường các hoạt động TDTT, đẩy mạnh phong trào tập luyện bóng chuyền của HSSV góp phần rèn luyện thể lực, phát triển thể chất để học tập tốt hơn. Vừa qua, Trường CĐSP Quảng Trị đã tổ chức giải bóng chuyền HSSV chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.

Mặc dù thời tiết diễn ra không thuận lợi nhưng cả trọng tài và cầu thủ đều đã cố gắng hết mình cống hiến cho khán giả những trận bóng và pha bóng đẹp mắt, gay cấn và đầy kịch tính .

Hơn nửa tháng thi đấu (từ ngày 7/11 đến 18/11),  cuối cùng giải đã kết thúc thành công tốt đẹp với kết quả như sau:

• Đội nam:

     - Giải nhất: Khoa Tiểu học

     - Giải nhì: Khoa CNTT

     - Giải ba: Khoa Tự nhiên

• Đội nữ:

     - Giải nhất: Khoa Tiểu học

     - Giải nhì: Khoa CNTT

    - Giải ba: Khoa Mầm non

       Qua giải bóng chuyền 20/11 lần này, Ban tổ chức đánh giá cao tinh thần thi đấu của các đội. Hi vọng giải sẽ tạo phong trào tập luyện TDTT thường xuyên của các em để rèn luyện sức khỏe và sự dẻo dai trong các giải lần

Trần Thị Thanh Huyền

 

Thành cổ Quảng Trị - Miền tâm thức vọng về

Thư điện tử In PDF

Quảng Trị là miền đất nằm ở tâm điểm của khúc ruột miền Trung, nơi tỳ vai gánh hai đầu đất nước. Đây là vùng đất có địa thế vô cùng quan trọng. Nếu trong thời kì phong kiến, Quảng Trị từng được coi là “trấn biên”, là "phên dậu”, thì trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đất này lại là nơi đối đầu quyết liệt nhất giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng, nơi chứng kiến nỗi đau chia cắt đất nước ròng rã suốt 20 năm. Có thể hình dung, Quảng Trị giống như hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc với các địa danh nổi tiếng như: Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, địa đạo Vịnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, Đường 9 Khe Sanh... đặc biệt là Thành Cổ Quảng Trị - một địa chỉ đỏ mà khi nhắc đến thường gợi lên trong mỗi người niềm xót xa xen lẫn tự hào.

Ðọc thêm...
 
  • «
  •  Đầu 
  •  Trước 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  5 
  •  6 
  •  7 
  •  Sau 
  •  Cuối 
  • »


JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

Các mục liên quan