• Tăng cỡ chữ
  • Cỡ chữ mặc định
  • Giảm cỡ chữ
Văn hoá, văn nghệ

Vai trò của thanh điệu trong thơ Việt Nam

Thư điện tử In PDF

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp kỳ diệu nhất của con người. Văn học là một hình thức giao tiếp. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học lấy ngôn từ làm chất liệu. Với chất liệu đó, văn học chứa đựng khả năng giao tiếp mà không phải loại hình nghệ thuật nào cũng có thể có được. Cũng vì vậy, để hiểu được đặc trưng, tính chất của văn học, chúng ta phải bắt đầu với chất liệu của nó là ngôn từ nghệ thuật mà cơ sở là các khả năng và phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ với các đơn vị: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các phương thức tu từ. Chính sự phong phú, đa dạng, đầy tiềm năng của ngôn ngữ đã tạo nên tính thẩm mỹ trong ngôn ngữ văn học.

Có thể nói, ngôn ngữ văn học là nơi tập trung, bộc lộ, phát huy tối đa tinh hoa, những điểm ưu việt của ngôn ngữ một dân tộc. Không ở đâu ngôn ngữ lại biến hoá bất ngờ, giàu hình ảnh và lung linh cảm xúc như trên mảnh đất văn học. Ngôn ngữ gồm hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, song trong ngôn ngữ văn học cái biểu đạt đã không đơn thuần chỉ là mặt hình thức âm thanh mà đã trở thành một nội dung, một ý nghĩa, một hình ảnh với những đặc trưng thẩm mỹ của nó. Nội dung và hình thức hài hoà, xuyên thấm cao độ.

Trong các phương tiện biểu đạt mà ngôn ngữ văn học vận dụng, khai thác thì thanh điệu là một trong những phương tiện ngữ âm độc đáo. Sự tồn tại giàu có của thanh điệu trong tiếng Việt là thuận lợi, là cơ sở để các nhà văn, nhà thơ với tài năng của mình có thể vận dụng, khai thác tạo hiệu quả nghệ thuật cao. Việc vận dụng yếu tố thanh điệu trong văn chương rất đa dạng, phong phú và thể hiện rõ nhất trong thơ hơn là trong văn xuôi. Trong các thể thơ cách luật, cũng như các yếu tố khác trong luật thơ, thanh điệu được quy định khắt khe. Trong thơ tự do, việc sử dụng thanh điệu, đặc biệt là luật bằng - trắc lại mở ra theo hướng khác. Do đó bài viết chỉ khảo sát sự thể hiện của thanh điệu trong thơ trên hai hệ thống: thơ truyền thống (với các thể thơ cách luật) và thơ hiện đại ( thơ tự do).    

I. Đặc điểm của hệ thống thanh điệu tiếng Việt

“Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị”[2.109]

Không phải ngôn ngữ nào cũng có thanh điệu. Tiếng Hán, tiếng Việt, Lào… là những tiếng có thanh điệu. Tiếng Anh, Pháp, Pháp Nga, Arap… không có thanh điệu. Trong những ngôn ngữ có thanh điệu, tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu. Tiếng Việt hiện đại có 6 thanh điệu có giá trị âm vị học, trong đó trên chữ viết năm thanh được ghi lại bằng 5 dấu: huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng và một thanh không được biểu hiện bằng dấu, có thể gọi là thanh không dấu hoặc thanh ngang.

Các thanh tiếng Việt được phân bố một cách có hệ thống. Tất cả 6 thanh đều có khả năng xuất hiện ở các âm tiết không có âm cuối hoặc có âm cuối không vô thanh. Các âm tiết có âm cuối là phụ âm tắc vô thanh /p, t, k/ thì chỉ có thanh sắc hoặc nặng xuất hiện còn các thanh ngang, huyền, ngã, hỏi không thể tồn tại trong những loại âm tiết này.

Thanh điệu là đơn vị không có tính âm đoạn, nhưng có đường nét, độ cao, tồn tại trong âm tiết. Do đó, các thanh điệu phân biệt với nhau theo hai đặc trưng chủ yếu là độ cao và đường nét vận động. Dựa vào hai đặc trưng đó có thể phân loại thanh điệu theo hai cách:

- Dựa vào độ cao của điểm kết thúc:

+ Các thanh có âm vực cao: thanh ngang, ngã, sắc.

+ Các thanh có âm vực thấp: thanh huyền, hỏi, nặng.

Sự đối lập về âm vực này là cơ sở để cấu tạo từ láy âm.

- Dựa vào âm điệu hay theo đường nét vận động:

+ Các thanh có đường nét bằng phẳng: thanh ngang, huyền. Gọi là thanh bằng.

+ Các thanh có đường nét không bằng phẳng, gãy khúc: thanh ngã, hỏi, sắc, nặng. Gọi là thanh trắc.

Sự đối lập về âm điệu là tiền đề để xây dựng luật bằng - trắc trong thơ. Hai mặt đối lập đó tạo nên giá trị biểu trưng của thanh điệu tiếng Việt.

Những phẩm chất âm thanh trên làm cho âm tiết tiếng Việt lúc bổng lúc trầm, lúc rút ngắn lúc kéo dài dàn trải, lúc mềm mại nhẹ nhàng lúc mạnh mẽ, dứt khoát, tạo hiệu quả về âm thanh khi sử dụng. Trong sáng tác văn chương, thanh điệu làm nên tính nhạc, nhất là đối với thơ. Tính nhạc và âm hưởng tạo ra từ việc phối thanh mang lại hiệu quả về nhận thức và cảm xúc lớn.

II. Vai trò của thanh điệu đối với ngôn ngữ thơ Việt Nam


1. Thơ cách luật

Trong văn học truyền thống, quan niệm thơ là phải có luật chi phối sáng tác của nhà văn và đánh giá của người đọc. Tài năng của nhà thơ là ở chỗ vừa phải tuân theo khuôn luật đã cố định vừa phải chuyển tải được khoảnh khắc thăng hoa tinh tế đầy xúc cảm từ tâm hồn. Bên cạnh luật về nhịp, hiệp vần, luật về phối thanh là một yếu tố quan trọng. Luật phối thanh của các thể thơ có luật như lục bát, song thất lục bát, các thể thơ Đường luật…chủ yếu theo luật bằng - trắc ( không chú ý nhiều đến luật cao - thấp).

Thơ lục bát là thể thơ thuần tuý dân tộc xuất phát từ dân gian. Thơ lục bát trước hết gắn liền với ca dao. Ca dao sinh ra trong môi trường, khung cảnh ca hát, diễn xướng nên có lẽ vì thế thể thơ lục bát thường mang âm điệu mượt mà, uyển chuyển. Tính chất đó bắt nguồn từ cách sử dụng thanh điệu. Ở thể thơ này, những tiếng hiệp vần (tiếng cuối câu lục hiệp vần với tiếng thứ sáu câu bát, rồi tiếng cuối câu bát lại hiệp với tiếng cuối câu lục) thường mang thanh bằng.

“ Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng.

Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân…”

Hay:

“Trèo lên cây khế nửa ngày

Ai làm chua xót lòng này khế ơi”

Dù nội dung là lời tỏ tình của tình yêu trai gái đầy thơ mộng và mơ ước hay thất vọng đắng cay, kể cả nỗi khổ phận nghèo, nỗi bất bình trước bất công ngang trái, ở những điểm nhấn của bài thơ vẫn là thanh bằng. Bài ca dao thứ nhất đọc lên ngân vang như một lời ca miên man, say đắm do thanh điệu được sử dụng trong sự kết hợp với các bộ phận khác của âm tiết tạo nên. Nguyên âm /a/ là nguyên âm sáng, có độ mở rộng và phụ âm cuối vang /ng/, /nh/ cùng với thanh bằng nhẹ nhàng, du dương tạo biểu tượng về tính chất tươi sáng, ngân vang như ước mơ đẹp của chàng trai.

Cũng với thanh bằng trong thơ lục bát nhưng bài ca dao thứ hai lại mang một âm hưởng khác. Thanh bằng kết hợp với vần /ay/ có độ mở hẹp gợi âm hưởng về sự đau xót, nghẹn ngào.

Ngoài ra, thơ lục bát còn yêu cầu về sự phối hợp cao thấp (bổng trầm), nhất là sự kết hợp chuyển đổi bổng trầm ở tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám của câu bát. Nhờ chuyển đổi âm vực nên âm điệu thơ thanh thoát, du dương:

Đến Nguyễn Du, tinh hoa của thể thơ lục bát đạt đến độ chín muồi. Luật bằng trắc vốn đã được xác định nay phát huy hiệu quả ngay trong sự xác định đó:



“Kiếp hồng nhan có mong manh

Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương”



(Truyện Kiều)

Thanh trắc ở âm tiết thứ tư trong câu bát theo đúng luật với tính chất đứt gãy thể hiện sự đột ngột, thời gian mang tính bước ngoặt của cuộc đời ca nhi Đạm Tiên vốn “nổi danh tài sắc một thì”.

Tuy giới hạn bởi thi luật song luật bằng - trắc trong thơ lục bát vẫn co giãn, không nghiêm ngặt như các thể thơ Đường luật, đặc biệt là thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đây được xem là một trong những thể thơ có niêm luật chặt chẽ, nghiêm ngặt nhất trong nền văn học thế giới. Luật phối thanh thơ thất ngôn bát cú rất phức tạp, buộc phải theo sự quy định về thanh bằng, thanh trắc trong từng câu và trong cả bài ( tiếng thứ 1, 3, 5, 7 không cần theo luật, tiếng thứ 2, 4, 6 bắt buộc phải theo luật). Sự xen kẽ, điệp, đối  bằng trắc làm cho điệu thơ cân xứng, hài hoà, nhịp nhàng và giàu tính nhạc.

“Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,


B     B     T     T      T       B      B

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.

T     T   B   B    T     T       B

Gác mái ngư ông về viễn phố,

T    T     B    B    B   T     T

Gõ sừng mục tử lại cô thôn.

T   B     T    T   T   B   B

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

B     B    T    T      B     B    T

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

T    T     B      B    T      T      B

Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ,

T    T      B        B     B     T    T

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”.

T  B   B   T   T   B   B

(Bà Huyện Thanh Quan - Chiều hôm nhớ nhà)

Đây là một bài thơ luật bằng vần bằng mẫu mực. Hiệp vần bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, mềm mại cho bài thơ, phù hợp để tạo âm hưởng về một buổi chiều lặng lẽ, lắng đọng, xa vắng và buồn man mác.

Cũng là thơ thất ngôn bát cú nhưng thơ luật trắc vần bằng lại tạo hiệu ứng khác:

“Đã bấy lâu nay bác tới nhà,

T    T   B    B    T    T   B

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

T    B   B   T       T    B    B

Ao sâu nước cả khôn chài cá,

B   B   T     T     B     B    T

Vườn rộng, rào thưa, khó đuổi gà.

B      T      B     B     T     T    B

Cải chửa ra cây cà mới nụ,

T    T   B   B   B   T   T

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

B    B    T      T      T         B       B

Đầu trò tiếp khách trầu không có,

B   B   T      T       B      B       T

Bác đến chơi đây, ta với ta”.

T    T      B    B    B  T   B

(Nguyễn Khuyến - Bạn đến chơi nhà)

Quyết định luật cho cả bài thơ là thanh trắc với âm vực cao như tiếng reo vui mừng đón người bạn tri kỉ tri âm.

Tuy nhiên, dù là những thể thơ cách luật nhưng ở đây vẫn thể hiện tính linh hoạt. Nhiều nhà thơ khi sáng tác có lúc phá luật, nhất là thể thơ có tính rộng mở như thơ lục bát. Đến hiện đại, thể thơ lục bát vượt qua khuôn luật để bắt kịp với mạch cảm xúc của nhà thơ. Lục bát đúng luật là “một tổ hợp nghiêng về thanh bằng” [5.174] song trong thơ lục bát của Nguyễn Duy có nhiều câu thanh trắc chiếm ưu thế: “Sốt cơn ác tính chín da” (Người đang yêu), “Đất vụn tơi, đá vụn tơi” (Nắng)…tạo âm hưởng gay gắt, mạnh mẽ.

Như vậy, trong các thể thơ cách luật, những đặc tính ngữ âm của thanh điệu tiếng Việt mang lại hiệu quả thẩm mỹ ngay trong khuôn mẫu đã định hình. Tuỳ theo nội dung, cảm xúc cụ thể mà tác giả lựa chọn hệ thống phù hợp. Mặc dù vậy, đối với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ở mức độ nhất định nào đó, luật bằng trắc cùng quy định chặt chẽ về hiệp vần, đối đã dẫn đến hạn chế về cá tính sáng tạo và sự tự do thể hiện cảm xúc, rung động của người nghệ sĩ. Bước sang văn học hiện đại, quy định nghiêm ngặt không còn phù hợp, nhà thơ tìm đến các cách thể hiện mới, nhiều phẩm chất của hệ thống thanh điệu được khám phá, mang lại nhiều điều thú vị.

2. Thơ tự do

Đặc tính âm học của hệ thống thanh điệu tiếng Việt là sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc. Trong giao tiếp nói chung và trong ngôn ngữ văn chương nói riêng, đặc điểm đó không thể không thể hiện. Vì vậy, về nguyên tắc, trong thơ tự do vẫn có luật bằng trắc nhưng tính chất và sự thể hiện khác với các thể thơ cách luật truyền thống. Thơ tự do trước hết đòi hỏi tự do về luật thơ để thể hiện những biến thái tinh vi, phong phú trong tâm hồn mỗi cá thể cũng đã được giải phóng. Song mỗi tác giả vẫn ý thức về vần đề hài hoà thanh điệu, về luật bằng trắc. Vấn đề bằng trắc, cao thấp ở đây không phải nhằm tuân theo thi luật mà nhằm tạo âm hưởng, phù hợp với cảm xúc. Cá tính, phong cách được đặt lên hàng đầu trong thời đại mới. Mỗi nhà thơ đều cố gắng tìm tòi những hình thức mới để chuyển tải nội dung mới. Trong viễn cảnh này, như trên đã nói, nhiều phẩm chất của hệ thống thanh điệu tiếng Việt được khám phá với những kết hợp mới mẻ giữa các âm vực, âm điệu.

“Buổi sáng em làm rẫy             Buổi chiều mẹ lên rẫy

Thấy bóng cây kơnia               Thấy bóng cây kơnia

Bóng ngả che ngực em            Bóng tròn che lưng mẹ

Về nhớ anh, không ngủ           Về nhớ anh, mẹ khóc”

(Nguyễn Khoa Điềm)

Sự phối hợp bằng trắc, thanh thấp, thanh cao trong từng dòng và giữa các dòng trong bài thơ rất sinh động. Trong đó thanh trắc và các thanh có âm vực cao chiếm ưu thế. Bài thơ như một khúc hát cao vút về nỗi nhớ bồi hồi, thao thức khôn nguôi. Không có hiệp vần nhưng nhờ sự phối thanh có hiệu quả nên vẫn đảm bảo cho bài thơ tính nhịp nhàng, cân đối, có âm hưởng.

Đau buồn về cái chết của đồng đội, Hoàng Lộc chọn thanh trầm, bằng trắc xen kẽ nhịp nhàng như những bước hành quân:

“Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đã chặt cành

Đắp cho người dưới mộ”

Các thanh bổng kết hợp với nguyên âm /a/ sáng, độ mở rộng cùng biện pháp điệp mang đến niềm vui náo nức, sôi nổi tự hào về quyền làm chủ và vẻ đẹp của non sông đất nước:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

(Nguyễn Đình Thi - Đất nước)

Việc lặp lại cùng một thanh điệu (hoặc các thanh cùng âm điệu) trong cùng một dòng thơ hoặc giữa các dòng thơ, các câu văn để tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng nhằm mục đích tăng tính tạo hình, tạo tính nhạc như vậy gọi là biện pháp tu từ ngữ âm điệp thanh điệu. Nhiều câu thơ thể hiện rất rõ biện pháp này. Trong đó những câu thơ điệp thanh bằng thường gợi âm hưởng buồn buồn, nhẹ nhàng, êm đềm:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi…”

( Xuân Diệu)

Vẻ đẹp của câu thơ là âm hưởng mà các thanh bằng gợi lên về một không gian lâng lâng, “chơi vơi”, “bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” – không gian của “tơ” và của “thơ”. Biện pháp điệp thanh điệu này đã mang lại những câu thơ mà nhà phê bình tài hoa Hoài Thanh đánh giá là “hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”(Thi nhân Việt Nam):

“Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”

(Bích Khê)

Không dùng nhiều từ chỉ nỗi buồn (chỉ có một từ “buồn”) song hai câu thơ hoàn toàn thanh bằng đã góp phần gợi nỗi buồn phảng phất, mang mang. Nỗi buồn không trĩu nặng mà như vương vất đâu đây, lan toả trong không gian.

Ngược lại, với tính chất gãy khúc, các thanh trắc được điệp lại thường diễn tả tính gay gắt, sắc gọn, dứt khoát:

“ Hãy nghe tiếng của nghìn xác chết

T      B     T      T      B      T     T

Chết thê thảm, chết một ngày bi thiết

T    B     T       T     T     B    B   T

Hãy nghe tiếng của một nghìn cái xác

T     B     T      T     T      B     T   T

Không chịu chết vạch trời kêu tội ác”

B       T     T      T      B   B    T  T

(Tố Hữu)

Thanh trắc được lặp đi lặp lại với mật độ dày đặc, tất cả các tiếng cuối câu đều mang thanh trắc làm vang lên tiếng kêu gay gắt, thống thiết, uất ức, căm phẫn. Trong sự đối lập với thanh bằng, đặc tính của hai loại thanh điệu này càng thể hiện rõ nét:

“Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?”

(Thâm Tâm - Tống biệt hành)

Câu đầu toàn thanh bằng trầm lắng như tiếng lòng của người đưa tiễn, lặng đi và buồn tê tái. Câu thứ hai bốn thanh trắc nối liền nhau là nỗi buồn dấy lên mãnh liệt. Sự kết hợp đó tạo nên một giọng điệu vừa gân guốc, rắn rỏi vừa sâu lắng, thiết tha. Với hai câu thơ khác của Tản Đà, sự đối lập này rõ rệt hơn:

“Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương”.

Điệp thanh trắc cùng âm tắc cuối âm tiết (thấp, uất) thể hiện sự uất ức của một người có ý thức cái tài của mình nhưng không được thoả nguyện. “Giang hồ mê chơi quên quê hương” toàn thanh bằng, các nguyên âm bổng, âm cuối là những phụ âm vang mang âm hưởng bay bổng như bước chân ngao du và tâm hồn phóng khoáng, đa tình đến phóng túng của nhà thơ.

Vai trò của hoà phối thanh điệu không chỉ thể hiện trong các chi tiết mà còn thể hiện trong kết cấu toàn bài thơ. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng là một bài thơ độc đáo không chỉ về nội dung mà cả về hình thức, trong đó điểm nổi bật nhất là tính nhạc trong thơ. Trong bài thơ có nhiều câu thơ hoàn toàn mang thanh bằng hoặc thanh bằng chủ đạo: “ Mường Lát hoa về trong đêm hơi” / “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” / “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”/ “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” / “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” / “Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”…Những câu thơ như thế kết hợp với các câu thơ khác trong khổ thơ tạo nên hiệu ứng đặc biệt.

Ở mười bốn câu thơ đầu, bước chân của người lính Tây Tiến đi qua những chặng đường gian nan, khổ ải với những vùng đất heo hút, hiểm trở nhất. Các thanh trắc, nhất là ở cuối câu: “sương lấp”, “mỏi”, “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”, “xuống”, “gầm thét” “Mường Hịch”…gợi cảm giác mạnh của sự dữ dội, hùng hiểm.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Chen giữa những thanh trắc và sự dữ dội đó là những câu thơ thanh bằng làm chủ đạo. Sau sự mất thăng bằng, trúc trắc, nặng nhọc của các câu trước là cái lâng lâng, êm đềm như một chỗ dừng chân nghỉ ngơi ở những câu thơ mang thanh bằng. Lời thơ mênh mang, êm mượt, thanh tú, bay bổng và buông lơi. Người đọc được chuyển đổi cảm giác liên tục, đột ngột gây hứng thú đặc biệt. Đến khổ tiếp theo, sự hoà phối thanh điệu lại bổ sung thêm những sắc thái mới với một tiết tấu khác:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Tám câu thơ như chặng dừng chân dài. Thanh bằng là chủ đạo trong cả khổ. Âm hưởng thơ lượn lờ, trôi nổi bồng bềnh, dập dìu như tiết tấu vũ hội.Tất cả gợi lên nét hào hoa, thanh lịch, đa tình của những người khách Tây Tiến. Đặc biệt hai từ “độc mộc” và “đong đưa” được sử dụng trùng điệp ở hai câu cuối tạo dư ba về tính nhạc bởi sự đối lập thanh điệu và cũng thể hiện được giọng thơ vừa gân guốc vừa mềm mại của Quang Dũng.

Qua những lúc đắm mình vào vẻ đẹp hoang sơ mà lộng lẫy của núi rừng, của những nàng sơn nữ, người lính lại lên đường. Chân dung của họ hiện lên cận cảnh. Ngang tàng và kiêu hùng. Tâm hồn lãng mạn, đa tình lắng đọng ở câu thơ thanh bằng chiếm ưu thế: “Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”. Cuối bài thơ, âm hưởng thơ mạnh mẽ, bi tráng như “khúc độc hành” của sông Mã “gầm” lên đưa tiễn, tiếc thương.

Như vậy, kỹ thuật phối thanh bằng trắc điêu luyện, tinh tế góp phần rất lớn trong việc mang lại hiệu quả thẩm mỹ về mặt âm thanh và ngữ nghĩa cho bài thơ. Tây Tiến là bản giao hưởng hài hòa, các nốt biến ảo linh hoạt vừa lãng mạn vừa bi tráng, vừa êm đềm vừa dữ dội. Đó cũng chính là hình tượng người lính Tây Tiến và những chặng đường hành quân của họ.

***

Thanh điệu tiếng Việt là một hệ thống giàu có. Những đặc trưng của nó, đặc biệt là sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc tạo cơ hội và tiềm năng lớn cho sáng tác văn học, nhất là tạo tính nhạc cho ngôn ngữ, tạo âm hưởng phù hợp với nội dung, cảm hứng của bài thơ.

Thanh điệu luôn gắn với âm tiết, tồn tại trong âm tiết. Vì vậy tính chất của thanh điệu thể hiện như thế nào trong thơ còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác của âm tiết. Cùng một loại thanh điệu nhưng đi với những phụ âm, nguyên âm hay âm cuối có đặc tính âm học khác nhau sẽ mang lại hiệu quả không giống nhau.

Thanh điệu dù có vai trò quan trọng song dù sao cũng chỉ là một phương tiện ngữ âm, không phải là tất cả nên không thể chỉ suy từ đặc điểm về thanh điệu để đi đến kết luận về nội dung hay khẳng định giá trị tác phẩm. Nghệ thuật sử dụng âm thanh chỉ mang lại hiệu quả và được công nhận khi nó phù hợp, góp phần làm cho nội dung ý nghĩa thêm sâu sắc.

Nguyễn Thái Hoàng

Khoa Xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO



1. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học. NXB Giáo dục, 1996

2. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. Cơ Sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. NXB Giáo dục, 2005.

3. Hoàng Tất Thắng. Phong cách học tiếng Việt hiện đại. Trường Đại học tổng hợp Huế, 1993.

4. Đinh Trọng Lạc. 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt. NXB Giáo dục, 2005.

5. Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao Thơ Mới, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003.


 

“T. mất tích” và sự ảnh hưởng của văn học Pháp

Thư điện tử In PDF

Văn học Pháp là một trong những nền văn học có sức ảnh hưởng lớn trong bức tranh văn học thế giới vốn đa thanh đa sắc. Các khuynh hướng, trào lưu cũng như các đại biểu xuất sắc của văn học Pháp đã vượt qua giới hạn địa lí, tạo nên sự tác động sâu rộng mang ý nghĩa toàn nhân loại. Việt Nam cũng là nước nằm trong trường ảnh hưởng đó, từ sự tiếp thu mang tính chất cưỡng ép trong giai đoạn đầu đến tính tự nguyện trong xu thế giao lưu văn hoá, văn học ở giai đoạn sau có ý nghĩa to lớn đối với quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam.

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, có thể nhận thấy những tác phẩm có giá trị nhất định, gây được sự chú ý của dư luận là những tác phẩm tiếp thu nhuần nhị các yếu tố của văn học thế giới, trong đó có văn học Pháp như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện sinh, văn học phi lí, tiểu thuyết mới…cùng các thủ pháp dòng ý thức, giễu nhại, phân mảnh, nghịch dị, huyền ảo...

Thuận là nhà văn sống ở Pháp khá lâu, tiếp nhận một cách tự nhiên cuộc sống hiện đại phương Tây, trong đó có văn học. Tác phẩm của Thuận cũng như các nhà văn Việt Nam khác sống lâu ở nước ngoài thấm nhuần cảm thức về nỗi cô đơn của phận người tha hương, chịu sự va chạm mạnh mẽ về văn hoá, khó bám rễ vào mảnh đất mới khi đã bứt khỏi cội nguồn. Ngay ở đây, tinh thần hiện sinh tồn tại. Ý thức về bản thể mất đi trong một xã hội mà con người không thể giao tiếp để hoà nhập, cuộc sống trở nên phi lí. Nhân vật “tôi” trong “Và khi tro bụi” của tác giả Việt kiều Đoàn Minh Phượng bỏ lại tất cả để đi tìm bản thể của chính mình: “Tôi muốn biết mình là ai để ngày tôi chết tôi biết rằng ai đã chết”. Như một người khách nơi xứ lạ, con người sống cô đơn và biết mình rất dễ vỡ. Với Thuận, nhân vật của cô cô đơn ở bất cứ nơi đâu trên thế gian này. Liên trong “Paris 11 tháng 8” cô đơn không chỉ khi sang Pháp mà từng cô đơn ngay chính trên quê hương mình, lúc còn ở Việt Nam. Người phụ nữ trong “Chinatown” như kẻ lạc loài ám ảnh bởi người chồng đã rời xa và luôn lo sợ rằng đến một ngày đứa con trai cũng để cô lại một mình. Từ khi sinh ra đến lúc đã là người phụ nữ trưởng thành, cái tôi của cô là của ba người – cô và bố mẹ. Suốt dòng hồi tưởng về cuộc đời không phẳng lặng trên chuyến tàu bị kẹt, cô chỉ đau đáu, miên man trở đi trở lại những câu hỏi vô nghĩa như chính cuộc sống vô nghĩa bởi bản ngã của cô chưa từng thuộc về cô: "Tôi chỉ muốn gặp Thụy để hỏi... Những ngày ấy Thụy ở đâu, gặp ai, làm gì...". Cuộc sống nghịch lý đến nực cười khiến con người đánh mất luôn bản ngã dù không phải là chưa từng ý thức về nó. Đến “T. mất tích”, nỗi cô đơn của con người vượt ra khỏi biên giới người Việt, không phân biệt giới tính, quốc tịch - những người đàn ông Pháp cũng cô đơn và dửng dưng trong xã hội Pháp hiện đại. Đi qua bốn tiểu thuyết “Made in Viet Nam”, “Chinatown”, “Paris 11 tháng 8”, tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh càng rõ nét ở “T. mất tích”. Nỗi cô đơn, xa lạ, vô nghĩa của tồn tại được đẩy đến cực hạn.

Tiếp thu đồng thời các xu hướng, trào lưu nên ngoài chủ nghĩa hiện sinh, ta còn có thể thấy dấu ấn của tiểu thuyết mới, của giọng văn hài hước đen trong “T mất tích” của Thuận. Sự tiếp thu văn học Pháp trong tác phẩm này nói riêng và sáng tác của Thuận nói chung còn nhiều vấn đề cần bàn, song ở đây bài viết chỉ khảo sát, tìm hiểu sơ bộ tinh thần cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh là thân phận cô đơn của con người trong xã hội hiện đại và thủ pháp tẩy trắng nhân vật tiếp thu từ tiểu thuyết mới, và điểm qua giọng văn hài hước đen nhằm thể hiện sự ảnh hưởng của văn học Pháp với văn học Việt Nam, cụ thể qua nhà văn Thuận.

1.    Thân phận cô đơn của con người hiện đại


“T. mất tích” gợi nhớ đến tác phẩm lừng danh của Haruki Murakami, “Biên niên ký chim vặn dây cót”. Thời hiện đại, từ chuyện mất tích của con mèo đến người vợ một ngày đi làm không quay về nhà đã thức tỉnh Okado Toru lắng nghe cuộc sống xung quanh với xúc cảm tự nhiên và mạnh mẽ nhất trong tiếng kêu của con chim vặn dây cót - tiếng kêu vọng ra từ bản ngã đang bị chìm khuất. Những giấc mơ đậm chất siêu hình và tính dục, những ám ảnh hiện sinh, những mối lưu truyền tâm linh huyền bí giữa con người, giữa các thế hệ…tất cả trải ra trên cuộc hành trình thử thách sức mạnh tâm linh cũng như sự nhạy cảm của con người. Bắt đầu từ cái phi lí để khám phá những cái phi lí khác đang tràn đầy thế giới xung quanh. Con người tìm ra bản thể của chính mình - ý nghĩa của sự tồn tại, tìm lại tình yêu đã mất và cả cuộc sống đã qua.

“T. mất tích” cũng vậy, sự kiện phi lí này lật lên sự kiện phi lí khác. Câu chuyện bắt đầu từ một buổi chiều, người vợ - T không đến đón con gái ở trường. Không có sự thay đổi này, cuộc sống vẫn trôi qua trong mối quan hệ “phi giao tiếp” giữa những con người sống cạnh nhau. Dưới bề mặt có vẻ  bằng phẳng đến tẻ nhạt đó là một lớp sóng ngầm, tảng băng tan vỡ, lớp sóng dâng trào cuộn chảy, bình thản và chậm rãi nhưng vẫn tạo một sự thay đổi đủ để con người không thể tiếp tục lạnh lùng trượt qua từng phút giây của cuộc sống.

Cuộc sống hiện đại trong nền văn minh vật chất biến con người thành cỗ máy vô cảm, cảm giác thuần tuý con người còn sót lại là cảm giác bất an, ích kỷ và đề phòng. Sáng đến công ty, chúi mặt vào đống sổ sách với các dãy số, nghỉ ăn trưa với món được cả công ty thích thú rồi sau ly rượu vang là câu chuyện về bất động sản và chuyện giường chiếu ngoài hành lang kèm theo cái nháy mắt hoặc vỗ vai hoặc hắng giọng tuỳ theo mốt của công ty, rồi những ly cà phê, những chuyến tàu điện ngầm chật ních người, đón con, uể oải ăn tối trong tâm trạng mệt mỏi, kết thúc một ngày là hai con người trên hai chiếc giường song song…Mỗi ngày trôi qua là một đường thẳng nhàm chán, “không phải vô tình mà chiếc đồng hồ mang hình tròn. Mỗi ngày trôi qua, cứ tưởng là đang tiến về phía trước nhưng trên thực tế, đã quay lại vị trí ban đầu. Cuộc sống tù đọng. Chỉ trẻ con mới nghĩ là lớn lên sẽ tự do đến nơi mình muốn, làm điều mình thích. Chín mươi chín phần trăm chúng ta lần lượt lập gia đình, sinh con, đi làm, khai thuế, nhích dần từng bậc lương, đánh vật với các phương tiện giao thông, uống cà phê như uống nước để chống chọi các cơn buồn ngủ…”. Giá trị con người thể hiện trên giấy đóng thuế, phiếu trả lương của người lớn, tiền căngtin của trẻ con. Con người không còn là cá thể độc đáo, ấm áp và đầy cảm xúc. Sự lặp lại nhàm chán, “tù đọng” đã mài mòn cảm xúc, biến con người thành những thực thể dửng dưng, lạnh lùng, khép kín. Người chồng Pháp, nhân vật “tôi” không có thói quen bộc lộ, không muốn ai biết về mình cũng như không có nhu cầu biết về người khác, trong các cuộc giao tiếp với người khác là “tôi im lặng”, “định nói…rồi thôi”, “tôi không nói gì”... Nhân vật “tôi” sống dửng dưng ngay từ nhỏ, từ một lúc nào đó đã lâu lắm, gắn với sự tồn tại của anh ta trên cõi đời này. Cùng năm tháng, cuộc sống càng tô lên đậm nét cái dửng dưng đến vô tâm đó. Anh ta cô đơn, sống lạc lõng trên cõi đời mà không hề ý thức được. Nhân vật “tôi” cắt đứt mình ra khỏi mọi mối quan hệ, kể cả những mối quan hệ quan trọng, tất yếu nhất. Mẹ mất mà “không thấy đau đớn lắm”. Người vợ chung sống sáu năm bỗng nhiên biến mất mà không mảy may lo lắng, “tôi chẳng làm gì nên tội. T mất tích thì cảnh sát cứ việc đi tìm”, anh ta tự thấy vui sướng vì không bao giờ phải “hứng chịu” bầu tâm sự của vợ. Anh ta không gọi vợ và con gái là “vợ tôi” hay “con gái tôi” mà chỉ là T và Hanal – trung tính, không ràng buộc. Không hiểu gì về vợ ngoài tính ít nói, thân hình khá quyến rũ, ngay cả tên vợ cũng không bao giờ gọi và cũng không viết được. Đời sống tình dục vợ chồng diễn ra theo thói quen, không đam mê, không cuồng nhiệt, không hứng thú, “mười lăm phút, vài động tác cơ bản và im lặng từ đầu đến cuối”. Lúc còn nhỏ sống với bố trong một căn hộ “nhưng hiếm khi gặp nhau”, khi đã lớn thì hai mươi năm không liên lạc, không biết gì về cuộc sống của nhau, “tôi chưa bao giờ tò mò về đời tư của ông, chưa lần nào thử hình dung xem ông sống ra sao”, khi biết tin bố đã chết không hề xúc động, “ngạc nhiên biết rằng bố tôi hơn tôi đúng ba mươi tuổi”, cũng không biết bố mất vì bệnh gì.  Ở công ty thì luôn giả vờ không nghe thấy, không trả lời, không tranh luận, không biết gì về đồng nghiệp cùng phòng ngoài thói quen vẽ lò xo khi nghe điện thoại và hà hơi vào mắt kính rồi kéo áo lên lau, “làm việc cùng nhau mấy tháng nhưng hầu như chưa bao giờ chúng tôi nói chuyện riêng. Một đôi lần tôi mời anh ta cà phê và ngay sau đó, anh ta tìm cách mời lại, dường như để có qua có lại, xã giao là chính”. Sự cô đơn của anh ta còn thể hiện trong ẩn ức tính dục, mọi ham muốn chỉ dồn lên và được giải toả với những tấm hoạ báo chụp ngực Emmanuelle Beart chứ không phải với vợ hay con người nào đó có thật, nóng bỏng và đam mê. T mất tích ngay từ đầu, không xuất hiện trực tiếp nhưng với cuộc sống như thế, người chồng như thế, chắc chắn rằng T cũng không thể không cô đơn, có lẽ cô đơn hơn ai hết, có lẽ chính vì cô đơn mà T quyết định “mất tích”, thoát khỏi cuộc sống “tù đọng” đang bủa vây này.
Xã hội văn minh đề cao tự do cá nhân, mọi người đều ý thức tối đa về việc tôn trọng đời sống riêng tư. Hầu hết các nhân vật trong “T mất tích” đều ít nói, xa cách và khó chịu trước cảm giác bị người khác biết về mình. Sự quan tâm biến thành thói xoi mói. Quyền con người “là vũ khí khá ư lợi hại mà người ta sử dụng để thanh toán lẫn nhau”. Con người hoài nghi tất cả. “Tôi tránh đến ngân hàng cũng chỉ vì không muốn giáp mặt với những kẻ biết rõ bí mật tài chính của tôi”, quan tâm đến việc viên cảnh sát điều tra hơn việc vợ mất tích. Cô bé Hanal năm tuổi trong môi trường như vậy cũng có thói quen luôn im lặng, không biểu lộ cảm xúc. Mic, đứa em trai cùng cha khác mẹ với nhân vật “tôi” cũng lạnh lùng đến kì lạ trong một cơ thể gầy gò, xấu xí. Họ tồn tại cạnh nhau rời rạc, tẻ nhạt, gượng ép và giá lạnh. Đánh mất các mối quan hệ ràng buộc giữa người với người, con người trở nên cô đơn trong lớp vỏ lạnh lùng. Tôn trọng đời sống riêng tư bị đẩy đến cực đoan khiến con người trở nên vô tâm với cả những người thân yêu nhất.  Trong suốt cả câu chuyện người đọc khó có thể tìm thấy một cảm giác yêu thương, nhớ nhung, chia sẻ. Những người đến chia buồn trong đám tang của ông bố với một câu nói, giọng rầu rầu như nhau một cách máy móc đến hài hước. Mọi sự tồn tại đều vô nghĩa, phi lí. Vấn đề thân phận con người với nỗi cô đơn hoang vắng và sự tha hoá bởi sự xói mòn các giá trị tinh thần mang tính bản thể được đặt ra một cách day dứt từ chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành nỗi trăn trở của nhà văn. Nếu không có chuyện T mất tích thì có lẽ anh ta vẫn tồn tại lơ lửng như vậy cho đến khi chết mà chưa từng thật sự sống, “tất cả đã đột ngột biến đổi. Trong thâm tâm, tôi không tính được sự kiện T mất tích sẽ ảnh hưởng sâu xa thế nào đến cuộc sống của tôi, nhưng tôi biết từ nay tôi không còn nhìn mọi thứ như trước nữa”. “Cú huých” đó đưa nhân vật bước vào một cuộc hành trình mới tìm kiếm bản thể, tìm lại ý nghĩa đích thực của cuộc sống, giá trị tồn tại của mình. Con người phải tìm thấy bản ngã chân thực và đó là con đường đầy khó nhọc, âu lo. Từ sự chống chếnh, khắc khoải đầy bất an con người có thể nhận thức sâu xa, chắc chắn về thực tại - nơi mà họ tìm thấy mình đang ở trong đó. Bắt đầu bằng những việc có vẻ vô nghĩa như băn khoăn về viên đại uý Delon, theo dõi sếp Brunel…từ đó nghĩ về cuộc sống vợ chồng và nhận ra “trên thực tế tôi biết gì về T?”, bắt đầu hiểu về người bố hào hoa nhưng ích kỉ, về nỗi trớ trêu trong gia đình sếp Brunel với quan hệ loạn luân giữa vợ và con nuôi…Những cách lí giải về các sự kiện diễn ra theo trí tưởng tượng, có thể đúng có thể không nhưng là con đường nhân vật hoà nhập vào cuộc sống, suy tư, trăn trở về những người xung quanh, dần dần thức tỉnh mọi cảm xúc sống động.

Quan niệm về con người cô đơn, tha hoá trong “T mất tích” mang dấu ấn của tinh thần chủ nghĩa hiện sinh. Tác phẩm thấm đượm nỗi cay đắng về sự tồn tại phi lí, vô nghĩa của cuộc đời, của thân phận con người trong xã hội hiện đại. Tính nhân bản của thông điệp cảnh báo về sự tan rã các mối quan hệ khiến người đọc bàng hoàng, chua xót và cuộc tìm kiếm bản ngã đã bị đánh mất là con đường duy nhất khẳng định giá trị của mỗi cá nhân trong cuộc sống vô cùng bề bộn này.

2. Thủ pháp tẩy trắng nhân vật


Thể hiện con người cô đơn, tha hoá, nhà văn Thuận đã tiếp thu và vận dụng khá nhuần nhuyễn thủ pháp tẩy trắng nhân vật của Tiểu thuyết mới.

Nổi lên trên nền tác phẩm là dòng sự kiện và những suy tư của người chồng Pháp sau khi T mất tích. Trong đó anh ta nổi lên lạc lõng giữa cuộc đời cô đơn, vô nghĩa và tẻ nhạt. Tuy nhiên nhân vật bi kịch nhất, khủng hoảng nhất chính là nhân vật chưa hề xuất hiện, T. T đã bị tẩy trắng, xoá nhoà hoàn toàn.

T là ai?

Với văn phong hình sự, trinh thám, Thuận đã thu hút người đọc qua từng trang với hi vọng nắm được chút ít về người mất tích đang được (bị) “truy tìm trên toàn lãnh thổ nước Pháp”. Song càng đọc càng vô vọng. T càng lúc càng nhạt nhoà bởi cuối cùng, T chẳng là gì cả. T dường như chỉ là ý niệm, như không hề tồn tại thực. T cô đơn, vô nghĩa đến mức không còn là mình.

Tên: Không được gọi tên đầy đủ, chỉ được kí hiệu là T, đó không phải là tên gọi. Chồng chưa bao giờ viết hoặc gọi tên (cũng như chưa bao giờ gọi tên chồng).

Về gia đình, người thân, bạn bè: Không có cả gia đình lẫn bạn thân ở Pháp, từ ngày lấy chồng không về thăm gia đình ở Việt Nam lần nào, không đến các buổi họp đồng hương.

Tính cách: Ít khi nói, “hầu như chỉ gật và lắc”, ngay cả một câu nói hoàn chỉnh khi nói chuyện với chồng cũng không có. Không khó tính, không ý kiến, không bình luận, không tỏ thái độ gì về mọi thứ diễn ra xung quanh kể cả việc chọn nhà ở, không tâm sự. Không ai hiểu gì về T ngoài những biểu hiện đó.

Ngoại hình và ham muốn tình dục: Hình thức bên ngoài không cụ thể, chỉ vài nét phác hoạ: “Cô ấy có thân hình gợi cảm, đường nét mềm mại, nước da mịn, vòng hông nhỏ, bộ ngực nhu nhú. Và mái tóc đen thả dài”, cơ thể “sạch bong và không mùi”, “như món ăn Nhật Bản, trình bày hài hoà, đẹp mắt, tinh tế nhưng lúc cho vào miệng lại không thấy vị gì, ăn hết rồi mà chẳng hiểu no hay đói, có thèm nữa hay không”, “làm tình đều đặn mười ngày một lần” và chưa bao giờ là người chủ động bởi sự kín đáo, e dè quá mức mà cũng có thể bởi lạnh lùng đến mức không còn ham muốn.

Mối quan hệ với những người xung quanh: Hầu như không ai biết về sự tồn tại của T, hoặc có biết thì cũng coi như T không có mặt. Những người ở cùng khu nhà đôi khi gặp cả hai vợ chồng nhưng chỉ lên tiếng chào người chồng. Khi cưới không mời ai tham dự, không đồng nghiệp nào ở công ty của chồng biết tên T. Không ai biết tin T mất tích ngoài cảnh sát, song cũng không biết cảnh sát có tìm được ảnh của T để biết mặt T không. T mất tích cũng không thể làm hai người thân duy nhất ở Pháp là chồng và con xúc động, lo lắng. Mẹ kế của chồng không hề hỏi về T dù biết có sự tồn tại của T…Chỉ có sếp của chồng là Brunel có một chút “liên quan” với T khi đọc đúng tên T và chung ngân hàng với T. Nhưng đó là mối liên hệ yếu ớt, ngẫu nhiên, vô nghĩa, dường như chỉ là cái cớ để người chồng tìm hiểu về vợ.

Như vậy hầu như về tất cả các phương diện thể hiện sự hiện hữu của một cá nhân T đều không có. T bị tẩy trắng tất cả. Thủ pháp tẩy trắng nhân vật đã hư vô hoá con người, không quá khứ, không tương lai và cả không hiện tại.  T mất tích hay không cũng chẳng gây xao động đến ai nên có thể T vẫn đó song đã nhạt nhoà đến mức hư vô, không ai có thể nhận ra. Cũng có thể T quyết định mất tích để thay đổi cuộc đời nhàm chán, tẻ nhạt của mình.

T là biểu trưng đau xót nhất cho thân phận con người thời hiện đại đang bị tha hoá, bào mòn tất cả, đánh mất tất cả đến mức không còn gì nữa. Những điều có thể nói về nhân vật bị tẩy trắng này chỉ có một chữ “không” trống rỗng. Đó là sự phi lí trong cái lí của tồn tại. Con người sống cô đơn, lạc lõng, không có ý nghĩa, không thể hiện được giá trị, không là gì cả của mình thì ngay sự tồn tại đó đã là phi lí.

3. Giọng văn “hài hước đen”

Đọc các tiểu thuyết của Thuận, người đọc thường mỉm cười thú vị trước giọng văn hài hước tinh tế, sâu sắc. Trong “T mất tích” giọng điệu hài hước đó tạo hiệu ứng mạnh mẽ trong tính giễu nhại – hài hước đen. Khó có thể khẳng định dứt khoát Thuận chịu ảnh hưởng của nhà văn, trào lưu cụ thể nào song ta có thể bắt gặp giọng giễu nhại đó trong văn học phi lí cũng như nhiều người cho rằng trong tác phẩm của Thuận nói chung và “T mất tích” nói riêng có dư vị hài hước chua chát của Michel Houellebecq, điều đó không phải là không có lý.

Điểm nhìn của người trần thuật trùng với điểm nhìn của nhân vật tôi. Giọng trần thuật của nhân vật tôi có lúc lạnh lùng vô cùng nhưng đôi lúc vẫn thoáng gợn cảm xúc. Giọng điệu hài hước gắn với những câu chuyện bi thảm của cuộc sống tạo nên một thế giới bi hài, cay đắng. Thông báo vợ mất tích trong một câu ngắn, vô cảm, dửng dưng: “T mất tích. Cảnh sát, sau bốn mươi tám tiếng đúng quy định hình sự, đã khẳng định như vậy và tung kế hoạch truy tìm trên phạm vi toàn quốc”. “Tôi chẳng làm gì nên tội. T mất tích thì cảnh sát cứ việc đi tìm. Tựu trung thì bỏ nhà ra đi không phải là một tội ác”. Cái hài hước ở trong sự dửng dưng đến khó tin và cái chua xót cũng nằm ở đó. Những quan điểm về cuộc sống gia đình, những nhận xét về gia đình Brunel với bà vợ loạn dâm và sự đối nghịch kệch cỡm giữa Brunel và đứa con nuôi, những nhận xét về thanh tra Delon, về những người đến viếng trong đám tang bố… đều được phủ một giọng kể giễu nhại hài hước chua chát này.

Chất hài hước sâu sắc là điểm mạnh tạo nên sức hấp dẫn của “T mất tích”. Chính cách nhìn hài hước đó càng tô đậm sự bi đát của cuộc sống. Dường như không có gì là quan trọng trong một cuộc sống đã mất hết ý nghĩa.

***



Ngày nay, xu thế giao lưu toàn cầu xoá bỏ mọi khoảng cách, rào cản. Các nhà văn hoà vào dòng chung của văn học thế giới, thể hiện cảm thức của con người hiện đại với một bút pháp tinh tế và hoàn toàn hiện đại.

Cùng với một số nhà văn Việt kiều khác, Thuận đã mang lại cho văn học Việt Nam một dòng chảy mới mà giá trị phần nào đã được khẳng định. Tinh hoa văn học thế giới được tiếp thu nhuần nhuyễn, xuyên thấm trong tác phẩm của Thuận. Ở đó ta có thể bắt gặp dấu ấn tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh về một thế giới cô đơn, trống rỗng, phi lí, đầy hoài nghi và dấu ấn khá rõ nét của Tiểu thuyết mới với thủ pháp tẩy trắng nhân vật, hay về giọng hài hước đen. Từ sự kết hợp đó Thuận đã khá thành công trong việc thể hiện cảm quan của con người hiện đại qua một tác phẩm không quá đồ sộ và khó đọc như “T mất tích”.


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1.    Đặng Anh Đào. Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXBGD-Hà Nội, 1995.

2.    Phương Lựu. Lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại, NXBVH, Hà Nội, 1995.

3.    Một số bài viết nhỏ về nhà văn Thuận trên mạng evan.com.vn, tuoitre.com.vn…

Nguyễn Thái Hoàng

Khoa Xã hội

 

Ngôi trường tôi yêu

Thư điện tử In PDF

Ngày tôi đến với trường sư phạm
Trường dựng tạm trên một ngọn đồi
Đường tới trường gập ghềnh đá sỏi
Gió Tây Nam rít thổi vô hồi

Gió nóng cháy cả khuôn mặt người
Bụi mù tung che một vùng trời
Áo trắng mặc đã đổi màu áo mới
Nắng hạn kéo dài, đợi mưa chẳng tới

Đêm nghe Ếch, Nhái kêu râm ran
Giếng nước đào xong, cạn trơ thấy đáy
Thầy trò quyết tâm khắc phục khó khăn
Thay trời làm mưa gian nan chẳng quản

Ơi tháng năm lòng người sư phạm
Bao yêu thương, gắn bó một đời
Ảnh hình một thuở trong tôi
Ngôi trường xanh thắm khoảng trời niềm tin.


                                    Nguyễn Tiến Mẹo

 

Tiểu phẩm vui: "Nhất vợ, nhì trời"

Thư điện tử In PDF


Dân gian có câu: "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm". Trong mái ấm gia đình, người phụ nữ đóng vai trò là người giữ lửa - ngọn lửa của tình yêu thương. Trong khoảnh khắc nào đó, nếu thiếu vắng người vợ, người mẹ trong nhà hẳn tất cả sẽ rơi vào cảm giác trống trãi, chông chênh.

Tiểu phẩm vui "Nhất vợ, nhì trời" chúng tôi xây dựng trên cơ sở những tình huống từ thực tế cuộc sống với mong muốn thêm lần nữa khẳng định vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

Vai diễn:

- Tố Châu: trong vai anh Gia - người chồng

- Ái Mỹ: trong vai chị Đình - người vợ

- Thu Hằng: trong vai bé Hạnh - con gái lớn

- Lê Phương: trong vai bé Phúc - con gái nhỏ

- Trần Hải: trong vai Vui - bạn anh Gia

- Anh Phi: trong vai Vẻ - bạn anh Gia

- Thu Hà, Thu Sang: trong vai những người bạn



CẢNH 1: VỢ VẮNG NHÀ

- Người chồng  : Vừa đi vừa lắc đầu – Chao ôi! Trống trải quá!

Nói vừa:  Mấy hôm nay như đứa nhớ nhà

Bụng đói cồn cào buồn bã vào ra.

- Bé Hạnh : (Từ trong sân khấu chạy ra)

Bố ơi! Nhà mình đây rồi mà bố còn nhớ nhà gì nữa hả bố?

- Bố  : Mày ngốc thật, tau nói nhớ nhà là nhớ “nhà tao” đó con ạ.

- Bé Hạnh  : (Nhăn mặt, chỉ tay lên trán)

“Nhà tao” – con vẫn không tài nào hiểu nổi.

- Bố : À...!(cười). “Nhà tao”- tức là vợ của tao và là mẹ của mày đó, hiểu chưa?

- Bé Hạnh : Dạ con biết rồi ạ!

- Bố : Mẹ mày mới vắng nhà mấy ngày mà sao gia đình này trống trải, lạnh lẽo thế này, chúng mày có thấy thế không?

- Bé Phúc : (Trong sân khấu chạy ra)

Con đang học bài mà nghe bố nói thế quá đúng. Đã 4 ngày bếp không đỏ lửa, thùng mì tôm mẹ mua cũng đã hết rồi.

- Bố : Chúng mày củng phải tập mà đi chợ thôi.

- 2 con : (Đồng thanh) chúng con học bán trú cả ngày mà bố.

- Bố : Thế à? Bố có một kế hay, ra quán đầu ngõ mọi chuyện sẽ xong ngay thôi.

- 2 con : (Đồng thanh) Bố thông minh thật (vừa reo lên vừa vỗ tay).

- Bố : Chúng con học bài đi, mọi việc để bố lo.

CẢNH 2: VẮNG CHỦ NHÀ – GÀ MỌC ĐUÔI TÔM

- Gia : Vừa đi vừa điện thoại

+ Cuộc gọi 1: Alô, Vui đấy hả, ta gặp nhau ở 35 Nguyễn Trãi nhé!

Vui : xuất hiện tươi cười.

+ Cuộc gọi 2 : Alô, Vẻ phải không? Gặp nhau nhé – sư tử đi vắng cả rồi – tha hồ mà vui chơi thôi.

- Gia  + Vui + Vẻ : Tươi cười bảo nhau...

- Gia hỏi Vui : Vợ mày đi công tác bao giờ? Chỉ mới biến mất 1 tiếng đồng hồ...

- Gia : Vợ chồng trẻ chắc chia tay bận rận lắm?

- Vui : Đúng ! Tiễn vợ lên tàu, tao vẫy tay chào thân ái : Lâu về nghe cưng! (đưa tay đẩy về phía trước và nhấn mạnh như đẩy đi).

- Vui hỏi Vẻ : Còn mày thì thế nào?

- Vẻ (Luyến) : Tao nói em đi mấy ngày về (vợ tao nói : đúng 5 ngày thôi) – Tao bảo : Sao nhanh vậy, nhớ em chết. Vợ quay lưng lên tàu mà tâm hồn tao được cởi trói như bây giờ đây.

- Vui + Vẻ : Cái Lan, Cái Huệ hôm nọ ấy, mới 16 thôi.

- Gia : (quay về phía khán giả) Các bác thấy chưa? Tuổi tác là phải chịu thiệt thòi thế đấy ! Ngay cả chọn em mà cũng chịu cảnh này đây.

- 3 anh cùng 3 em : ôm vai

- Gia : Trước lúc vui vẻ - anh xin phép hát tặng các em bài hát ngẩu hứng có tựa đề “Giã từ” – anh mời các chú và các em cùng nhảy điệu cha cha cha Đít cô.

Anh đưa em lên tàu

Để em đi công tác

Anh đưa em lên tàu

Lòng anh nghe rộn ràng

Ngày mai thoải mái đi chơi

Đi chơi không lo bị nói

Ngày mai thoải mái đi chơi

Đi chơi không lo ngày về...

(Hát xong)

- Vui : (Nghe điện thoại vợ điện đến)

Alô ! Anh đang ở đâu đấy, anh đón em ở ga tàu nhé!

- Vui : Em ơi! Anh bận quá, mấy ngày nay vùi đầu vào công việc – Trường bận họp xét đề tài nghiên cứu khoa học tới trưa mới về - em chịu khó gọi taxi Dòng Hiền đi.

- Vẻ : (Nghe điện thoại vợ điện đến)

Anh ơi! Nhớ cho con ăn đủ chất và chở con đi học đúng giờ nghe.

- Vẻ : Anh sẽ “khó khăn khắc phục” mặc dù bận rộn vùi đầu vào góp ý tập bài giảng học kỳ II em ạ!.

- Gia : (Nhìn đồng hồ, giật mình) đã 12h 30’

(nói nhỏ) Phải giải tán thôi, sư tử đột xuất về thì chết chắc.

- Tất cả cùng đi ra (3 cặp) : và cùng hát : chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời lòng ta mê say...

 


CẢNH 3: NHẤT VỢ - NHÌ TRỜI

- Hạnh + Phúc : Dắt tay nhau dáng thất thểu bước vào sân khấu.

- Phúc : Chị Hạnh ơi! Em đói quá, sao chị không gọi bố về nấu cơm để em còn đi học.

- Hạnh : Chị gọi rồi nhưng chỉ nghe tiếng cô gái nào đó thôi.

- Liền lúc đó Chị Đình bước vào : Cô gái nào hả con – cô ta nói gì?

- Hạnh : Cô ấy nói “Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được, hẹn quý khách vui lòng gọi lại sau”.

- Người vợ bực mình : Được rồi, thuê bao của bố mày sớm muộn củng tan thành mây khói.

- Người vợ bất chợt nhìn lại : Thấy Phúc lả đi vì đói liền hét lên : Con tôi làm sao thế này – Trời ơi ! cứu con tôi...

- Gia xuất hiện : Vừa đi vừa nói : 2 con yêu quý của bố - hạt ngọc trời cho bố đã đưa về đây – con ăn khỏe cho chống lớn – Phở gà bổ lắm con ơi !

- Người vợ mỉa mai : 2 con yêu quý ở đây và một vợ vô cùng yêu quý củng ở đây.

- Người chồng hốt hoảng : Thế em về sớm một ngày à?

- Người vợ : Chao ôi ! mới vắng nhà có mấy ngày mà nhà cửa, con cái thế này đây – con lả đi vì đói.

- Người chồng : Em ơi ! Vợ vắng nhà ra mặt chuột – Nhất vợ nhì trời đâu có sai phải không các bác (quay về phía khán giả cả gia đình cười).

Nguyễn Thị Châu

Lương Thị Tố Uyên

Cập nhật lần cuối vào 14:57 14.04.2011
 

Mùa cải quê tôi

Thư điện tử In PDF

      Những ngày cuối năm, mưa xuân lất phất rơi từng hạt trong veo li ti e thẹn vương khẽ trên mái tóc báo hiệu đất trời đang độ vào xuân.

     Ở quê tôi, từ những ngày cuối tháng 11, khi mưa xuân về thì khắp mọi vườn nhà nào cũng xới đất vãi cải. Cải là loại cây dễ thích ứng với tiết xuân. Hạt cải chỉ cần vãi ra vài hôm, gặp mưa xuân là có thể phát triển nhanh thành cây con, với một màu xanh mướt tươi non thẳng tắp theo lối đường đất như những tấm thảm nơi quê nghèo. Bởi chỉ cần nhìn những vườn cải mượt mà chợt thấy quê mình giàu lắm cái hồn quê chất chứa khôn nguôi. Chính quê hương đã gói gém cẩn thận những kỉ niệm giúp ta lớn miên man theo ngày tháng. Và kỉ niệm ấy cũng bình dị mộc mạc như cái tình quê vậy.

     Theo thông lệ vào mùa này trong làng đi đến nhà nào cũng có một luống cải xanh được vãi được tỉa. Cải là loài cây hợp với đất ẩm. Đất trồng cải được cuốc bệ lên rồi phăm mịn trộn đều với ít phân hữu cơ. Như thế là đã tạo ra được một môi trường phì nhiêu thuận lợi cho cải phát triển và chống chịu với cái nũng nịu của tiết trời cuối năm cứ thay đổi liên tục.

     Vào ngày tết bên những thức ăn ngậy béo thì một rá cây cải non sẽ trở thành món ăn rau sống kẹp, trong bữa ăn của mỗi gia đình.  Rồi từ đó cải trở thành món khoái khẩu đối với mỗi người mỗi nhà.

     Khi tiết trời lập đông cũng như mọi người trong làng, mẹ tôi tỉa những cây cải to cứng cáp trong luống cải được vãi rồi cấy cải ra theo luống. Chỉ khoảng hơn mươi hôm các luống cải đã xum lá to bẹ lắm rồi. Cứ thế trong cái nắng hiếm hoi những ngày cuối năm. Mẹ tôi lại vội vàng nhổ những cây cải to có giòng rửa sạch để ráo, tranh thủ nắng mới phơi cải héo héo. Nấu nước sôi để nguội cho thêm ít muối khuấy đều rồi nén từng lá cải vào trong hủ đất. Sau đó đổ nước muối cho xấp xấp lá cải là được. Rồi đậy kín nắp hủ và cứ để như vậy vài hôm đến lúc mở ra, từ trong hủ cải sẽ bay vởn vào không khí một mùi thơm chua chua nồng nồng lan tỏa của món dưa cải.  Lúc này từng lá cải xanh đã chuyển sang màu vàng ươm trông rất thích mắt. Món dưa cải quê tôi có vị  ngon và khác biệt so với dưa cải bẹ miền Bắc. Cải quê tôi người ta hay gọi là cải cay. Lá không to, cọng nhỏ dài. Rất hợp để dùng làm dưa cải muối. Lúc ăn từng miếng cải giòn rúm, lá dưa cải dai ngọt. Loại dưa cải cay khác biệt là khi để dưa cải lâu trong hủ cải không bị nát, lúc kho cải cũng không bị nhừ. Điểm đặc biệt ở quê tôi quan niệm với những người gọi là có tay làm cải thì dưa cải để càng lâu càng thơm và ngon.

    Nhớ những năm phải sống xa nhà trọ học nơi đất người mới thấy sao nhớ quá hủ dưa cải cay của mẹ. Tôi không thể quên được cũng vào mỗi dịp cuối năm thế này khi lũ sinh viên chúng tôi cứ bận bịu vào kì thi học kì I nên chẳng mấy chú tâm vào việc nấu nướng cứ cơm bụi mỳ tôm triền miên qua ngày. Và thế là mỗi buổi chiều ánh trời vàng đục đổ về trên mái bếp nhà bên, tôi ngồi ôn bài cạnh cửa sổ vu vơ ngước mắt nhìn sang thấy màu khói bếp nhà bên vởn vơ theo tiếng gọi mẹ của đứa trẻ đầu phố không hiểu sao khi ấy lại thấy sống mũi mình cay cay.

     Những lúc ấy thấy thèm biết mấy một dĩa dưa cải vàng thơm của mẹ chấm nước mắm ớt tỏi với bát cơm trắng quê mình quá đỗi.

     Mặc dù cải là loại cây góp vào bữa cơm hàng ngày nhưng ở quê tôi cây cải còn có một sứ mệnh thiêng liêng lắm bởi màu hoa cải đã tạo nên bức tranh quê nghèo ngày tết một nét đẹp riêng khó phai. Màu vàng hoa cải hằn sâu vào ký ức, thường trực trong nỗi nhớ mỗi người vào những khi tết đến xuân về. Cái vàng tươi của hoa cải không hiểu sao cứ thấy vương vấn không muốn xuân qua vì lúc ấy hoa cải cũng theo ngày xuân sang mùa mà tàn rụi héo buồn. Bỗng cảm thấy yêu lắm cái màu vàng mơ màng trên từng bông cải nhỏ nhắn đáng yêu nhưng lại không kém phần tinh tế. Mặc dầu cải không đẹp kiêu sa nhưng cải đẹp trong chính sự bình dị thầm lặng như nét đẹp chân chất của người nông dân quê tôi vậy. 

     Những buổi xế tà theo ráng chiều lất phất màu đỏ nhạt của ánh mặt trời muộn nghiêng xuống trên những bông cải phản chiếu một gam màu rất đẹp và lạ. Hoa cải dập dờn ru theo gió khẽ chao mình e ấp một vẻ đẹp tình tứ đáng yêu. Cải hồn nhiên và rồi nét đẹp duyên quê ấy đã vướng vào tâm hồn kẻ đa cảm từ lúc nào không hay biết sự cho nhớ nhung da diết trước mỗi mùa cải quê hương.

 
                                                                                       Phan Bảo Hòa

                                                                                  (Đài PT – TH Quảng Trị)            
 

 

 
  • «
  •  Đầu 
  •  Trước 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  Sau 
  •  Cuối 
  • »


JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL