(Đọc tập thơ Gieo hạt tương lai của Nguyễn Xuân Phùng)
Nhà giáo làm thơ không phải là chuyện lạ. Nhưng trên mảnh đất nắng nỏ mưa dầm này có một nhà giáo dạy Toán làm thơ, viết báo bằng nỗi đam mê thường trực như thầy giáo Nguyễn Xuân Phùng thì thuộc “trường phái hiếm”. Có lẽ do tạng chất nghệ sỹ thấm sâu trong máu thịt nên anh có một quãng đời xê dịch trong công tác và rốt cục, lại quay về bục giảng. Đấy là lý do sâu xa của một tâm hồn đa mang nhưng đầy trách nhiệm, muốn tìm về sự cân bằng trong cuộc sống. Thơ của Nguyễn Xuân Phùng chân mộc, cảm xúc thường theo lối dẫn lý tính nên cái đích tác động tức thời và người đọc thường dễ đồng tình về một thái độ sống mà không cần phải băn khoăn lựa chọn. Sau tập thơ trào phúng Mong đời đẹp hơn - một tập thơ thể hiện ý thức công dân tích cực trước những điều trông thấy, nhà thơ lại có cái nhìn bình tĩnh hơn về cuộc sống vốn truyền chuyển sự nẩy mầm những cây đời xanh tươi. Gieo hạt tương lai là tập thơ thứ hai của tác giả mang vẻ đẹp cuộc sống ấy.
Có thể thấy, với Gieo hạt tương lai, người đọc nhận ra một Nguyễn Xuân Phùng tiếp nối và đổi mới. Sự đổi mới có tính đa chiều trong phản ánh, trong cái nhìn rộng mở nên giọng thơ thanh thoát nhẹ nhàng. Cố nhiên, trong chừng mực nào đó, đề tài quyết định sự lựa chọn giọng điệu. Dễ hiểu vì sao nhà thơ - nhà giáo nhìn đàn em nhỏ “cắp sách đến trường” lại hồi qui và soi chiếu hai chiều thời gian cảm nhận:
Nghĩ gì hở em ?
Lòng xuyến xao, bồi hồi sóng dậy
Cuộc đời hôm nay tươi đẹp biết mấy
Nhớ lại năm xưa gian khổ, đắng cay
Đội mũ rơm em đến lớp ngày ngày
Đường hào em đi trong tầm đạn pháo
Đến lớp học dưới hầm sâu, địa đạo
(Trang sách mái trường)
Và yêu thương lấp đầy khi tâm tưởng hóa hiện cậu học trò Nguyễn Xuân Phùng năm nao day dứt khó quên:
Ngày ấy đi học ở Vĩnh Linh
Giữa đạn bom chẳng sợ gì bom đạn
Chỉ sợ lớp học trống chỗ ngồi của bạn
Là thầy trò chung một nỗi âu lo
(Vĩnh Linh ngày ấy)
Tình yêu thắng nỗi sợ hãi. Mảnh đất Vĩnh Linh cơ hồ được chọn đặt tâm điểm thử thách làm nên sức mạnh tình yêu. Lại như phép cộng của định mệnh trói buộc phận người “ ăn cơm bữa diếp”, nhà thơ thấm thía nỗi thương khó nghìn đời đổ về cơn nhói của tim mình nên nói với con bằng lời tâm tình, tâm sự:
Khổ nhục cuộc đời tôi tớ
Gậy roi vụt, quất lưng, hông
áo rách không nơi rận ở
Cơm ăn bữa diếp xót lòng
(Tâm sự cùng con)
Thơ lục ngôn vốn dành ưu thế diễn tả những gì êm ái, thủ thỉ ân tình nhưng đọc khổ thơ ta thấy tác giả khéo cải hoán nhịp điệu, tăng cường thanh trắc cùng lớp động từ làm cho trường miêu tả và giải bày tâm trạng đạt được hiệu quả. Những câu thơ lệ ứa không hề phù phép chữ nghĩa bởi tự nó đã nhận chân địa chỉ một vùng đất trần ai “xót lòng” bao thuở. Nhà mô phạm không mắc bệnh “ngộ chữ” thánh hiền mà lấy sự hành xử trong cuộc sống hôm qua và hôm nay để con cái (và học trò) phán xét. Anh dạy bài học nghĩa nhân qua trắc vấn kép:
Cha mẹ làm gì? Đã sống ra sao?
Thời kháng chiến cha có lên chiến hào
Cầm chắc súng bắn vào quân xâm lược
Mẹ có góp phần cùng toàn dân cứu nước
Có phút giây nào chùn bước trước gian lao
(Khi con hiểu đời)
Đấy là lối thơ “gia huấn” nhẹ nhàng mà nhuần thấm, dẫn cảm.
Lịch sử thuộc về quá khứ nhưng có quá khứ gắn kết hai thế hệ tiếp nối đồng hành nên lịch sử hiện hữu bên mình và chính lịch sử là thấu kính nhận chân mỗi người có ý thức làm nên ý nghĩa cuộc sống. Với trẻ thơ, sự tiếp nhận ấy bắt đầu bằng lời khuyên nằm lòng giản dị:
Tự đi bằng đôi chân
của chính mình con nhé
(Lời khuyên của mẹ)
Không phải ngẫu nhiên, hình ảnh những thiên thần tuổi nhỏ luôn đi về trong cõi nhớ của tác giả gieo hạt tương lai (13/53 bài). Có lúc, tâm hồn nhà thơ nhập vào thế giới sáng trong hồn nhiên lên tiếng nói và những khi ấy, câu thơ nguyên sơ như thuở ban đầu, như không cần “chuốt lời” (chữ dùng của Nguyễn Công Trứ) nhưng thật đáng yêu:
Sinh con đúng ngày Độc lập
Trời xanh, nắng biếc ru nôi
Mẹ đặt tên con Quốc Khánh
Ông bà rạng rỡ nụ cười
(Quốc Khánh)
Hay như khi viết về nhà giáo, tác giả dành sự chia sẻ, trân quí các cô giáo tình nguyện đến những miền cao heo hút vì bao đàn em khát chữ, bởi lẽ “cô gánh chữ bằng trái tim”, “trao đàn em nhỏ mở đường tương lai”. Nguyễn Xuân Phùng là thế. Anh luôn có những câu thơ ấm áp khi viết về những tấm gương lặng thầm vì sứ mạng dạy chữ dạy người:
Từ buôn xa đến bản gần
Bao năm dạy học thành dân bản mường
Mang cái chữ - mang yêu thương
Trao đàn em nhỏ mở đường tương lai
(Hoa nở đầu non)
Có ý kiến cho rằng, Gieo hạt tương lai là sự đứt gãy, chuyển mạch từ tư duy trào phúng sang trữ tình. Thực ra, từ trước đến sau, tư tưởng tác giả luôn nhất quán trong thái độ, khác chăng đó là sự chuyển dời điểm nhìn về đối tượng phản ánh để biểu lộ tình cảm, dù đó là sự chia sẻ hay phê phán nhưng luôn nhắm đến tình yêu con người, tình yêu cuộc sống (trên thực tế, có 13 bài thơ trào phúng được tác giả gom vào phần Gìơ cao điểm). Tình yêu ấy nồng đượm như “hương xuân quê mẹ”:
Hương xuân ấm nồng
Tỏa từ lòng đất nghèo khó
Đất mẹ cần cù quanh năm trăn trở
Chắt lọc mỡ màu luyện dòng nhựa nuôi cây
Sữa mẹ ngọt ngào nuôi con lớn hôm nay
(Hương xuân quê mẹ)
Đặc điểm này càng thấy rõ những khi nhà thơ đặt chân đến những vùng đất thừa nỗi đau và không thiếu niềm tin che chở:
Dứt tiếng súng hòa bình lập lại
Hải Lăng trắng một màu tê tái
Bao vành khăn tang trắng mái đầu xanh
Trắng bao xóm làng, trắng túp lều tranh
Trắng cánh đồng khô, trắng vườn cây quả
Trắng bàn tay cha, trắng gia tài mạ
Chỉ còn niềm tin ánh mắt long lanh
Bên dòng Ô Lâu,Vĩnh Định trong xanh
(Hải Lăng trắng và xanh)
Anh yêu quê ngoại cháy lòng:
Tuy ông bà ngoại nay không còn nữa
Trong tim con vẫn đượm nồng ngọn lửa
Quí yêu quê mẹ chẳng khác quê cha
Tâm hồn con luôn nở hai bông hoa
(Hai bông hoa)
Anh tạc dạ tấm lòng Tân Kỳ (Nghệ An) “góp gạo sắn- dồn yêu thương nuôi dưõng” thầy trò Quảng Trị thời sơ tán; anh chan chứa lặng ngắm những cô gái Tây Nguyên “miệng hát nhưng tay không vót chông nữa/ mà hái cà (phê) thoăn thoắt thật xinh giòn”; anh nhìn ra lẽ trường sinh từ con đường Trường Sơn “in triệu bánh xe lăn” gắn Nam Bắc nối Tây Đông để hôm nay có mái nhà chung nghĩa tình đầm ấm. Nhà thơ mang tình yêu vạn đại của đời và trở lại khát khao sự chia sẻ, đồng cảm ở đời. Chừng đó thôi cũng đủ cho chúng ta yêu mến tác giả.
Hẳn nhiên, người đọc có quyền hy vọng ở anh có được những hạt thơ đúng nghĩa gieo trên cánh đồng nghệ thuật và biết gạn lọc những hạt lép để cây thơ có mùa quả đẹp.
Võ Văn Luyến
| < Trước | Sau > |
|---|





